Sunday, December 31, 2000

Tỏi

Tỏi là loại gia vị không thể thiếu trong rất nhiều món ăn. Đặc biệt, nó còn được nhiều quốc gia dùng làm thuốc phòng trị nhiều bệnh rất độc đáo.

Theo Sách Dược tính chỉ nam: “Tỏi vị thuốc gọi Đại toán, vị cay tính ấm, có độc, tác dụng thông được 5 tạng, lợi được các khiếu, khai vị kiện tỳ trừ được chứng khí lạnh, chứng ôn dịch tiêu được những độc ung nhọt, phá được chứng trưng hà báng tích, tiêu được thức ăn bằng cá bằng thịt, giải được nọc rắn, chứng trúng nắng mê man, chứng đổ máu cam…”.

Tài liệu gần đây cho biết dùng tỏi giảm mỡ máu, ngăn ngừa huyết áp, tim mạch… Tỏi còn được coi như một loại kháng sinh đa năng có thể ức chế trên 70 loại vi khuẩn, siêu vi, ký sinh trùng. Sau đây là một số món thuốc dùng tỏi:

Chữa viêm mũi dị ứng: khi gặp lạnh hắt hơi, ngứa mũi chảy nước mũi. Dùng tỏi vài tép cắt ra từng lát đắp lòng bàn chân (huyệt dũng tuyền).

Tỏi giã nát đắp lòng bàn chân (huyệt dũng tuyền) trị chảy máu cam rất hiệu quả.

Chữa chứng trẻ em chảy máy cam do hư hoả: Dùng tỏi giã nát rịt lòng bàn chân (dũng tuyền). Nếu chảy máu cam bên mũi phải, đắp tỏi lòng bàn chân bên trái và ngược lại bên đối diện.

Chữa chứng cước khí: khi gặp gió rét, hơi lạnh đám ma làm chân tay sưng đau, dùng tỏi giã nát xát vào hai bàn chân, nơi đau cho nóng lên là yên.

Chữa tâm hàn thống: khi gặp lạnh, tâm hồi hộp, tức ngực khó thở. Dùng tỏi ngâm giấm ngày ăn 2 - 4 tép.

Chữa mỡ máu cao: người thừa cân, mỡ máu cao, bụng đầy chậm tiêu do tỳ hư thấp trệ. Dùng tỏi xào bông bí hoặc hoa lý ăn tuần vài lần.

Chữa béo phì, mỡ máu cao, tăng huyết áp: Dùng tỏi ngâm dấm, ăn ngày 2-3 tép, nên ăn nhiều ngày.

Chữa tăng huyết áp: Dùng tỏi ngâm dấm ăn ngày 2-3 tép. Hoặc đậu trắng 100g, tỏi 100g cho 2 lít nước nấu còn 1 chén uống 3 lần trong ngày, một tháng ăn một vài lần.

Chữa trị cảm cúm: Dùng tỏi giã nhỏ hãm nước sôi chắt lấy nước, nhỏ vào mũi cho mọi người trong ngày vài lần.

Chữa khớp chân sưng đau: tỏi 30g, rau chân vịt 200g, cà rốt, khoai tây gia vị hầm ăn tuần vài lần.

Chữa rắn cắn: dùng tỏi giã vắt lấy nước cốt uống, bã đắp nơi rắn cắn.

Chữa bụng đầy đau: sau khi ăn thịt cá bụng đầy đau khó tiêu. Dùng 1 vài nhánh tỏi khô hoặc tỏi tươi ăn sống.

U xơ tử cung, u xơ tuyến tiền liệt: dùng tỏi non làm gỏi, làm rau ăn, tỏi củ xào rau cải hoặc hoa lý ăn tuần vài lần.

Kiêng kỵ: tỏi vị cay tính ấm, không nên dùng với người đau mắt sưng đỏ (can hoả), chứng ho khan đàm vàng (phế nhiệt), lưng nóng đi tiểu vàng, ít do thận hoả, người hay bị lở miệng, môi nứt do vị hoả; người bứt dứt khó ngủ do tâm hỏa; người mắc các chứng xuất huyết, chảy máu, người nóng “do hỏa” cần nên kiêng tỏi.

Lương y: Minh Phúc

Hoa chơi tết đều là vị thuốc quý!

Hoa đào: tính bình, vị đắng, không độc. Lợi đại tiểu tiện, trục giun sán, tan sỏi thận, thông kinh huyết, hóa đàm, chữa điên loạn. Có sách nói nếu hoa đào để nguyên cuống có tác dụng mát máu, giải độc, chữa lên sởi, lên đậu. Cách dùng sắc uống hoặc tán bột 4 - 8g. Dùng ngoài tán bột rắc lên vết thương hoặc giã đắp. Không dùng cho người có thai.

Chữa thủy thũng:hoa đào lượng vừa đủ, nghiền bột mỗi lần lấy 6g cho vào nước cháo loãng, uống lúc đói. Ngày 3 lần hoặc nấu cháo hoa đào ăn.

Chữa táo bón: bột hoa đào 30g bột mì 100g làm bánh ăn hoặc bột hoa đào 10g, chia 2 lần hòa nước ấm uống lúc đói.

Hoa đào để nguyên cuống có tác dụng mát máu, giải độc, chữa lên sởi, lên đậu

Hoa đào để nguyên cuống có tác dụng mát máu, giải độc, chữa lên sởi, lên đậu

Đau eo lưng: hoa đào 100g, gạo nếp 500g, hoa đào giã vụn, trộn gạo nếp cho nước nấu thành cơm khô để nguội rồi cho men rượu ủ thành cơm rượu dùng dần.

Bế kinh: hoa đào 25g ngâm vào 250ml rượu trong 1 tuần. Mỗi lần uống 10ml hòa với nước ấm hoặc hoa đào 10g cho vào cơm rượu 50g trộn đều, chưng cách thủy cho nhừ hoa để bớt nóng, ăn cả cơm và hoa. Ngày 1 lần, liền 1 tuần.

Sỏi thận: hoa đào, hổ phách lượng bằng nhau. Nghiền hoa đào trộn đều với hổ phách mỗi lần 6g cho vào 1 tô lớn nước, nấu trong nửa giờ, lọc lấy nước uống. Ngày 2 lần.

Mặt bị phong lở ngứa: hoa đào, nhân hạt bí đao, lượng bằng nhau. Gộp 2 thứ tán bột hòa mật mía, bôi vào chỗ lở ngứa.

Hoa mai trắng: mai trắng được nói nhiều về dược tính của nó từ lâu đời, so với mai vàng. Mai trắng tính mát vị chua chát không độc. Công năng khai vị, tan uất kết, bình can hòa vị, lợi phế khí, hóa đàm, an thần định phách giải đậu độc. Dùng dạng sắc, bột hoặc viên hoàn, đắp dán ngoài.

Chữa mất ngủ: hoa mai trắng 5g, hoa hợp hoan 10g, rượu cúc 50ml, cho 2 hoa vào rượu chưng cách thủy cho nhừ hoa để ấm, uống sau bữa cơm tối 1 giờ.

Chữa chán ăn: hoa mai trắng 6g, hoa đậu ván trắng 15g, quả sơn tra khô 20g, trộn đều 3 thứ rồi chia đều 3 phần để dùng làm 3 lần. Khi dùng lấy 1 phần cho vào ấm rót nước sôi già để cho nguội bớt, rót ra uống.

Chữa viêm họng: hoa mai trắng 6g, hoa dành dành 5g, trà xanh 20g, gộp 3 thứ lại trộn đều chia ra 5 phần để dùng mỗi lần 1 phần cho vào tách nước sôi già cho ngấm rồi uống.

Chữa trúng nắng: nước cất hoa mai trắng, nước cất hoa kim ngân, mỗi thứ 50ml hòa 2 thứ lại, thêm 1 lượng nước 100ml đun sôi để nguội chia 2 lần uống. Mùa hè nắng gắt, trước khi đi ra nắng nên uống nước này phòng trúng nắng.

Phòng chữa lên sởi, lên đậu: hoa mai 100 bông hái vào sáng sớm khi còn đẫm sương của tháng 12 âm lịch. Đem số hoa đó ướp vào đường trắng, mỗi lần ăn 3 - 5 bông. Ngày ăn 3 lần.

Đậu mùa mới phát: hoa mai trắng phơi khô tán bột nhào mật mía viên bằng hạt đậu xanh 1 tuổi uống 1 viên. Thêm mỗi tuổi uống thêm 3 viên. Ngày 3 lần với nước nóng.

Hoa hải đường: tính lương, vị chua đắng, vào 2 kinh tâm - can. Công năng hoạt huyết tán ứ, lương huyết, chỉ huyết, điều kinh chỉ đới, an thần, ích can, lợi đởm. Dùng chữa các trường hợp xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam, kinh nguyệt không đều, băng lâu đới hạ, lỵ.

Phong thấp tý: hải đường 8g, cốt toái bổ 12g, tang ký sinh 16g, nấu nước uống thay trà.

Hoa hải đường

Hoa hải đường

Kinh nguyệt không đều, băng đới: hải đường 12g, đương quy 8g, nấu nước uống.

Thổ huyết, tức ngực, đoản hơi: hải đường 12g, cát cánh 8g, phổi lợn 200g. Nấu chín uống nước, có thể ăn phổi.

Cường kiện, khỏe lưng, chân: hoa hải đường 10 bông, cá thu đủ ăn 1 - 2 bữa. Nấu hoa với cá bằng lửa to cho sôi rồi hạ lửa, cho 1 thìa rượu, gia vị.

Hoa đỗ quyên: tính ôn, vị chua, vào 2 kinh can tỳ. Có công năng hòa huyết, điều kinh, hóa đờm, giảm ho, chữa phong thấp, chống ngứa. Chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh băng lậu, trật đả chấn thương, thổ huyết, chảy máu cam.

Hoa đỗ quyên

Hoa đỗ quyên

Ho, thổ huyết: hoa đỗ quyên 12g sắc uống thay trà.

Mệt mỏi, bồn chồn: hoa đỗ quyên với hoa hồng đều 8g. Hãm uống nóng thay trà.

Phụ nữ khí hư ra nhiều: hoa đỗ quyên 1 bông, móng lợn 2 bộ. Móng lợn rửa thật sạch, bổ đôi, trần nước sôi để ráo. Hoa đỗ quyên bỏ nhị, rửa sạch để ráo. Cho tất cả vào nồi với 4 bát nước. Đun sôi nhỏ lửa trong nửa gờ. Nêm gia vị ăn cái uống nước.

Phụ nữ kinh nguyệt không đều, thân thể khô gầy: hoa đỗ quyên 5 bông, gan lợn 5 lạng, hành củ 1 củ, rượu 1/2 thìa, gia vị vừa đủ, 3 bát nước nấu sôi gan lợn rồi mới cho hoa đỗ quyên vào cùng gia vị.

Điều kinh, trừ phong thấp: hoa đỗ quyên 3 bông tách rời từng cánh, rửa sạch để ráo. Cho vào ấm con khoảng 200ml nước sôi kỹ. Uống thay trà.

Hoa thủy tiên: tính hàn, vị cay đắng vào 3 kinh tâm - phế - can. Hơi có độc! Có công dụng khu phong, tán nhiệt, hoạt huyết điều kinh tiêu thũng, giải độc. Chữa ung thũng nhọt độc, viêm tuyến vú cấp, viêm tuyến mang tai…

Răng, sưng đau, cổ gáy đau: hoa thủy tiên 8g, đường trắng một ít. Sắc uống.

Tiểu tiện không thông, trướng bụng: củ thủy tiên 1 củ rửa sạch bỏ vỏ thô, dùng dao thái nhỏ giã nhuyễn đắp vào lòng bàn tay, bàn chân (huyệt dũng tuyền).

Mụn nhọt đinh độc: củ thủy tiên và hoa giã nhuyễn đắp tại chỗ. Nếu phối hợp rễ cây thuốc, lá phù dung càng tốt.

Bộ phận có độc: toàn cây nhất là phần thân hành (củ) triệu trứng ngộ độc. Nôn mửa, thở nhanh, sốt, co giật cơ. Giải độc nên đưa đến bệnh viện cấp cứu. Nếu cần sơ cứu thì gây nôn, uống lòng trắng trứng gà…

Hoa cúc vàng: vị đắng, tính bình. Chủ trị các chứng phong, váng đầu, sưng đau mắt, chảy nước mắt sống, da thịt teo cứng, chứng ác phong tê bại, làm lợi huyết mạch, trị các chứng nhọt độc, lở loét ngoài da, làm đẹp da. Thanh can nhiệt, hoa cúc dùng làm thuốc. Lá non có thể làm món ăn sống hay nấu cháo, canh, pha ướp trà, nấu rượu. Hoa cúc cũng dùng tươi nấu canh, khô pha trà.

Hoa cúc

Hoa cúc

Chữa chứng nhìn lâu mỏi mờ mắt dùng hoa cúc làm gối. Hoa cúc 2kg phơi khô làm ruột gối đầu. Dùng thời gian 1 - 2 tháng sẽ có hiệu quả.

Công dụng và cách dùng đã có nhiều hướng dẫn trong các sách thuốc xưa và nay. Ngoài cách dùng trong còn dùng hoa, lá được dùng đắp, rửa các bệnh ngoài da như: mụn, nhọt, lở loét.

Hoa hướng dương: bộ phận dùng làm thuốc: hoa, đài hoa, lá, tủy cành, rễ và hạt. Hoa hướng dương tính ôn, vị ngọt, vào hai kinh can, phế, có công năng khư phong, sáng mắt, thông thoáng mao khổng ở da, chữa đau đầu, huyễn vựng, mặt má sưng và đau răng…

Trị ho, đờm suyễn, nhuận phế nhất là chữa ho gà, thông yết hầu, đẹp nhan sắc: dùng hoa hướng dương từ 1 - 2 đóa, thêm đường phèn sắc uống.

Trị đầu choáng mắt hoa, đau đầu khó chịu, mặt má sưng đau, ngực đầy, ngắn hơi...: dùng hoa hướng dương 3 - 5 đồng, sắc uống hoặc chưng thành thang rồi thêm 1-2 quả trứng gà nấu kỹ.

Chữa chứng nổi mề đay, dễ cảm phong hàn, da dẻ quá mẫn cảm, phong chẩn nổi cục: dùng hoa hướng dương 3 đồng, hoa mào gà trắng 2 đồng, lá tử tô 5 đồng sắc uống thay trà có thể thêm đường phèn lượng thích hợp.

Chữa viêm khớp, vô danh ủng thống (phù thũng không rõ nguyên nhân), viêm tuyến vú: dùng hoa hướng dương lượng thích hợp sắc đặc thành dạng cao, đắp vào chỗ đau.

Chữa huyết áp cao: hoa hướng dương 60g, râu ngô 30g, đường đỏ 10g. Hoa hướng dương và râu ngô cho cùng nước sắc lấy 200ml, cho đường vào quấy đều chia làm ba lần uống trong ngày, cần uống ba đợt, mỗi đợt 10 ngày, giữa các đợt cần nghỉ là 5 ngày.

Chữa chứng mờ mắt: đài hoa hướng dương lượng đủ dùng, đập vào 1 quả trứng gà, đổ thêm nước nấu chín nhừ, ăn cái uống nước.

Chữa chứng nhức răng: đài hoa hướng dương 1 cái, rễ câu kỷ 1 nhúm, luộc chung với 1 quả trứng gà, khi trứng chín bóc bỏ vỏ, dùng tăm đâm vào trứng cho ngấm thuốc rồi nấu tiếp 1 lúc thì vớt trứng ăn.

BS. PHÓ THUẦN HƯƠNG

Chữa ho bằng hoa ngọc lan

Dưới đây là một số phương trị bệnh từ hoa ngọc lan.

Chữa trị ho: Hoa ngọc lan 30g, mật ong 40g, cho cả hai thứ vào bát, hấp cách thủy khoảng 20 – 30 phút sau mang ra để ăn.

Chống ho làm long đờm, lợi tiểu tiện: Hoa ngọc lan 15g, hải triết bì 2 mảnh, 1 quả dưa hồng, 1 củ cà rốt, 5 củ tỏi, 15ml dấm trắng, 5ml dầu thơm, 1 thìa xì dầu, 1 thìa đường. Hoa ngọc lan rửa sạch, bóc cánh thái nhỏ. Hải triết bì ngâm, rửa sạch, khử mùi tanh. Dưa rửa sạch, bỏ cuống rồi thái nhỏ. Cà rốt cạo vỏ, thái nhỏ. Trộn các nguyên liệu trên, thêm gia vị, rồi để hoa ngọc lan đã thái nhỏ lên trên, đổ nước đủ dùng, sắc uống ngày 1 thang.

hoa ngọc lan chữa hoHoa ngọc lan.

Chữa chứng ho, sưng đau yết hầu:

Lấy 20g hoa ngọc lan khô đem tẩm với mật ong trong 3 ngày rồi hãm uống như trà. Bài thuốc này có tác dụng chữa chứng ho do nhiễm lạnh, đau đầu, hoa mắt, tức ngực.

Chữa ho gà: Ngọc lan hoa trắng 8 cái, lá chanh 10g, gừng 3g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Uống 5 ngày liền.

Chữa viêm phế quản: Ngọc lan hoa trắng 7 hoa, hoa hồng bạch 5 hoa, mật ong 15ml. Tất cả cho vào bát hấp cách thủy, chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 3 – 5 ngày.

Làm nhuận da, kích thích tiêu hóa:6g hoa ngọc lan, 1 thìa trà xanh. Hoa ngọc lan rửa sạch bằng nước muối, vẩy cho ráo nước, để vào bát. Rót nước sôi vào bát, sau đó cho trà xanh vào. Hãm uống thay trà trong ngày.

Cải thiện thống kinh: Dùng 10g hoa ngọc lan chưa nở sắc uống thay trà vào buổi sáng. Một liệu trình là 30 ngày.

BS. Hoàng Xuân Đại

Hoa gạo: Tiêu viêm, giảm đau

Dưới đây xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần.

Chữa viêm dạ dày và ruột cấp tính, tiêu chảy, đại tiện ra máu: Dùng 1 trong số bài thuốc sau:

Bài 1: hoa gạo 60g nấu với nước, thêm mật ong hoặc đường phèn, uống trong ngày.

Bài 2: hoa gạo, hoa kim ngân, phượng vĩ thảo mỗi vị 15g, sắc uống.

Bài 3: hoa gạo 30g sắc uống, chia làm 3 lần, uống trong ngày.

Chữa sưng đau vú sau sinh: rễ hoặc vỏ thân cây hoa gạo 30g sắc uống.

Chữa các bệnh viêm khớp, đau lưng, phong tê thấp: vỏ thân cây gạo 20g nấu lấy nước, bỏ bã, hòa vào chút rượu, uống lúc nóng, ngày 2 lần.

Hoa gạo: Tiêu viêm, giảm đauHoa gạo có tác dụng giảm đau khớp.

Trị vết thương phần mềm, chấn thương sưng đau: rễ và vỏ thân cây gạo ngâm với rượu, xoa bóp ngoài hoặc đem giã nát đắp vào nơi tổn thương.

Trị đau răng: vỏ thân cây gạo 20g sắc đặc, ngậm nhiều lần trong ngày.

Chữa viêm khí phế quản cấp tính: rễ gạo 30g sắc uống.

Trị ho có đờm: hoa gạo 15g, ngư tinh thảo (rau diếp cá) 15g, tang bạch bì 10g sắc uống.

Trị ho ra máu: hoa gạo 14 bông sắc kỹ, chế thêm một chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.

Chữa viêm dạ dày: rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 30g sắc uống. Hoặc dùng bài: rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 30g, rễ cây lưỡng diện châm 6g sắc uống.

Chữa trĩ xuất huyết: hoa gạo 20g, quyển bá 10g, hòe hoa 15g sắc uống.

Chữa bong gân: Dùng 1 trong số bài thuốc sau:

Bài 1: vỏ cây gạo 16g (cạo bỏ vỏ ngoài, sao rượu), lá lốt 16g (sao vàng) sắc với 750ml nước, cô còn 250ml, chia uống 2 lần trong ngày.

Bài 2: lá náng, quả đu đủ non và vỏ thân cây gạo lượng bằng nhau rửa sạch, giã nhuyễn, băng vết thương.

Bài 3: rau má tươi, vỏ thân cây gạo tươi, vòi voi tươi và bồ công anh tươi lượng bằng nhau rửa sạch, giã nát, bó vào nơi tổn thương.

BS. Nguyễn Thị Ngọc Lan

Chữa bệnh bằng hoa cúc ngày Tết

Theo các chuyên gia phong thủy, cúc là loài hoa tượng trưng cho phẩm chất cao đẹp, trường thọ, phúc lộc và niềm an vui. Chính vì lẽ đó mà cứ mỗi dịp Tết đến xuân về, người ta lại dùng những chậu cúc xinh tươi đặt trước cổng và thềm nhà với mong muốn về một năm mới dồi dào sức khỏe, tăng thêm phúc lộc. Ngoài dùng làm cảnh, hoa cúc còn nổi tiếng là vị thuốc y học cổ truyền với nhiều công dụng chữa bệnh tuyệt vời.

Hoa cúc và các dược tính y học

Hoa cúc có nhiều loại khác nhau, nhưng có hai loại thường được dùng nhiều nhất trong y học là cúc hoa vàng và cúc hoa trắng.

Theo y học cổ truyền, cúc hoa trắng vị đắng, tính bình (Bản Kinh), vị ngọt, không độc (Biệt Lục), vị đắng mà ngọt, tính hàn (Thang Dịch Bản Thảo); quy vào các kinh phế, tỳ, can, thận; có tác dụng tán phong thanh nhiệt, bình can, minh mục, giải sang độc. Cúc hoa vàng vị đắng cay, tính ôn, quy vào 3 kinh phế, can, thận, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, minh mục, giáng áp. Cả hai thường được sử dụng để chữa các chứng cảm lạnh, sốt, chóng mặt, nhức đầu, đau mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, mờ mắt, huyết áp cao, đinh độc, mụn nhọt sưng đau. Uống lâu ngày lợi huyết, có tác dụng về nội tiết làm trẻ lâu.

Ngày nay, y học hiện đại đã chứng minh được một số tác dụng của hoa cúc như: Tác dụng hạ huyết áp trên động vật thực nghiệm và thử nghiệm lâm sàng trên người có bệnh tăng huyết áp; tác dụng chữa cảm phong hàn (từ bài thuốc gồm cúc hoa vàng cùng với 5 vị thuốc khác) làm hết sốt ở 80% số bệnh nhân sau ngày điều trị thứ nhất; tác dụng chống viêm kháng khuẩn từ hoạt chất được chiết xuất từ hoa cúc (ức chế khá mạnh các chủng vi khuẩn như phế cầu, liên cầu khuẩn tan máu, tràng cầu khuẩn, tụ cầu vàng, các trực khuẩn lỵ Shiga, Sonne, trực khuẩn subtilis, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn coli…); tác dụng tăng cường thị lực và tác dụng an thần ở những bệnh nhân suy nhược thần kinh loại hưng phấn tăng do sang chấn tinh thần.Cúc hoa trắng (bạch cúc).

Cúc hoa trắng (bạch cúc).

Bài thuốc từ hoa cúc chữa nhiều bệnh:

Chữa ho, sốt, cảm:

Bài thuốc “Tang cúc ẩm” trị sốt, ho, cảm mạo: cúc hoa vàng, lá dâu mỗi vị 6g; liên kiều, bạc hà, cam thảo, cát cánh mỗi vị 4g, sắc cùng 600ml nước đến khi còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa cảm sốt: cúc hoa vàng, địa liền mỗi vị 5g; cúc tần, lá tre, bạc hà, kinh giới, tía tô, cát căn mỗi vị 20g. Tán thuốc bột hoặc chế thành thuốc viên, uống mỗi ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 4 - 6g.

Chữa cảm phong hàn (chủ yếu có cảm giác lạnh): cúc hoa vàng 5g, địa liền 5g; bạc hà, kinh giới, tía tô, cát căn mỗi vị 20g. Sắc uống.

Trị đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, suy nhược thần kinh và các chứng bệnh về mắt:

Bài thuốc “Kỷ cúc địa hoàng hoàn” trị mắt khô, hoa mắt, chóng mặt: kỷ tử 20g, thục địa 32g; cúc hoa vàng, đan bì, phục linh, trạch tả mỗi vị 12g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 6g. Các dược liệu sấy khô, tán nhỏ, luyện mật, vo viên bằng hạt ngô, ngày dùng 3 - 4 lần, mỗi lần 16 - 20 viên. Nếu sắc uống thì mỗi loại giảm bớt 1/6.

Bài thuốc “Cúc hoa trà điều tán” trị hoa mắt, chóng mặt, mắt đỏ, mũi tắc: cúc hoa vàng, xuyên khung, kinh giới, bạc hà, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, cam thảo, bạch chỉ, tế tân, khương tàm (các vị bằng nhau). Trộn đều, tán nhỏ, mỗi lần uống 4 - 6g, sau bữa ăn, dùng nước chè chiêu thuốc.

Trị chóng mặt theo “Thái Thanh Kinh Bảo Phương”: bạch cúc hái vào ngày trùng cửu – ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch, lấy hoa 2 cân; phục linh 1 cân, tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 8g với rượu nóng.

Bài thuốc “Cấp cứu phương” trị mắt có màng mộng sau khi bị bệnh: bạch cúc hoa, thuyền thoái, 2 vị lượng bằng nhau, đem tán bột. Mỗi lần dùng 2 - 12g trộn với một ít mật, sắc.

Bài thuốc “Kỷ cúc địa hoàng thang gia vị” chữa âm hư hỏa vượng (triệu chứng: hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ù tai hay quên, hồi hộp, hay xúc động, ít ngủ, miệng khô, táo bón, nước tiểu đỏ): cúc hoa vàng 8g; kỷ tử, thục địa, hoài sơn, câu đằng, sa sâm, mạch môn mỗi vị 12g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, táo nhân, bá tử nhân mỗi vị 8g. Sắc uống, ngày 1 thang.

Chữa can âm hư, thường gặp ở phụ nữ tiền mãn kinh, tăng huyết áp và xơ vữa động mạch ở người già, suy nhược thần kinh (triệu chứng: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, lưỡi khô): cúc hoa vàng 8g; kỷ tử, hà thủ ô, thục địa, sa sâm, đỗ đen sao mỗi vị 12g; tang thầm, long nhãn, mạch môn mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa suy nhược tâm thần với các triệu chứng chóng mặt, mệt mỏi, kém trí nhớ, mất ngủ: cúc hoa trắng 20g, toan táo nhân 25g; đương quy, phục linh, sinh địa, kỷ tử mỗi vị 20g; viễn chí, tục tùy tử, mạch môn, bạch truật mỗi vị 15g; xuyên khung, hoàng bá, nhân sâm mỗi vị 10g; nước 800ml sắc còn 300ml, chia 2 lần, uống trong 5 ngày.

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có xơ vữa động mạch, chóng mặt, ù tai và những triệu chứng chủ quan khác: cúc hoa trắng 10g, sinh địa 25g, vỏ ngọc trai 25g, sơn dược 15g, phục linh 12g, sơn thù du 12g, mẫu đơn 10g, lá dâu 10g, nước 800ml. Sắc còn 300ml chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh thận: cúc hoa trắng 10g; phục linh, sinh địa, sơn dược, thạch hộc mỗi vị 12g; kỷ tử, sơn thù du, trạch tả mỗi vị 10g; mẫu đơn 6g, nước 800ml. Sắc còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa tăng huyết áp ở bệnh nhân có suy tim, chóng mặt, thở hổn hển, ra mồ hôi, có triệu chứng ứ trệ máu: cúc hoa trắng 6g, mạch môn 15g, hà thủ ô đỏ 15g; sinh địa, đương quy, ngũ vị tử, táo ta, huyền sâm mỗi vị 10g; phục linh, thạch xương bồ, cam thảo, đảng sâm mỗi vị 6g, chi tử 3g. Sắc uống.

Chữa nhọt ống tai ngoài: cúc hoa vàng 12g; bồ công anh, sài đất, kim ngân hoa, kê huyết đằng mỗi vị 16g; hoàng liên, sinh địa mỗi vị 12g, chi tử 8g. Sắc uống.

Chữa đinh râu: hoa và lá cúc hoa vàng 80g, bồ công anh 80g, giã nát, lọc lấy nước uống, đắp bã tại chỗ.

Chữa đinh nhọt, mụn nhọt có mủ theo Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách:bạch cúc hoa 160g, cam thảo 20g, sắc uống.

Chữa viêm não Nhật Bản B: cúc hoa trắng 10g, thạch cao 3g, liên kiều 10g, kim ngân hoa 10g, cam thảo 6g, hoàng cầm 6g, thanh cao 6g, dành dành 5g, cát cánh 5g, bạc hà 2g, nước 300ml. Sắc trong 20 phút, uống tất cả mỗi lần.

Chữa co giật, hôn mê do sốt cao ở thời kỳ toàn phát các hội chứng nhiễm độc não, viêm não, viêm màng não: cúc hoa vàng 12g; sinh địa, thạch cao, thảo quyết minh mỗi vị 20g; câu đằng 16g. Nếu mắt đỏ, thêm long đởm thảo 8g; khò khè do ứ động dịch tiết, thêm trúc lịch 30ml; lưỡi đỏ, miệng khô thêm mạch môn 12g, thiên hoa phấn 8g. Sắc uống.

Làm đẹp da, tăng tuổi thọ - Đây là tác dụng được các cung tần mỹ nữ Trung Hoa thời xưa đặc biệt chú ý. Trong cuốn “Từ Hy Quang Tự y phương tuyển nghị” của Trần Khả Dực (đời Thanh) có trích phương thuốc bí truyền “Cúc hoa diên linh cao” do Trương Trọng Nguyên và Đào Bảo Sinh chế cho Từ Hy Thái Hậu, có tác dụng làm cho làn da trở nên hồng hào, tươi mịn, dung nhan bất suy và trường thọ. Thành phần của bài thuốc gồm: 2kg cánh hoa cúc tươi nấu cùng với nước, loại bã, lấy phần nước cô đặc lại rồi trộn với mật ong để nấu thành cao. Ngày dùng 1 - 3 lần, mỗi lần 12 - 15g, uống cùng nước sôi để nguội.Cúc hoa vàng (kim cúc).

Cúc hoa vàng (kim cúc).

Sách “Bảo Phác Tử” của Cát Hồng đời Tần cũng ghi lại bài thuốc “Bột cúc hoa” làm tăng sắc đẹp: bạch cúc nửa cân hái vào đúng ngày 9 tháng 9 âm lịch, Phục linh nửa cân. Đem tán bột rồi trộn đều. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 6g với rượu ấm.

Bài thuốc “Dưỡng thọ đơn” trong “Ngự dược viên phương’ của Hứa Quốc Trinh giúp bồi bổ ngũ tạng, làm đẹp dung nhan, khỏe mạnh, lâu già: bạch cúc hoa, địa cốt bì, câu kỷ tử, thỏ ty tử, phúc bồn tử, viễn chí, thạch xương bồ, ba kích, bạch truật, phục linh, tục đoạn, tế tân, thục địa, xa tiền tử, hà thủ ô, nhục thung dung mỗi thứ 3 lạng, tán bột, luyện với mật ong, viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần lúc bụng đói.

Bài thuốc “Cam cúc phương” kéo dài tuổi thọ: Hái mầm cúc vào thượng tuần tháng 3, lá cúc vào tháng 6, hoa cúc vào tháng 9, nhổ cả cây, rễ vào tháng 12, cả 4 thứ phơi trong râm cho khô, lấy số lượng bằng nhau đem tán nhỏ. Liều dùng ngày 3 lần, mỗi lần 1 đồng cân hoặc luyện với mật ong, làm viên bằng hạt ngô, dùng ngày 3 lần, mỗi lần 7 viên. Uống liên tục trong 100 ngày.

Tiến sĩ - Lương y Phùng Tuấn Giang (Thọ Xuân Đường)

Trị viêm họng với cây bông phấn

Cây bông phấn còn có tên khác là hoa phấn, sâm ớt, phấn đậu hoa, ngân chi hoa đầu, thủy phấn tử hoa. Theo Đông y, bông phấn có vị mặn, hơi cay, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tán ứ, tiêu viêm, lợi tiểu, thường dùng chữa viêm họng, kinh nguyệt không đều, viêm đường tiết niệu,...

Cây bông phấn.

Cây thường được trồng làm cảnh và làm thuốc. Bộ phận dùng làm thuốc là rễ hoặc toàn cây.

Quả bông phấn.

Một số đơn thuốc có sử dụng bông phấn

- Viêm họng: Bông phấn 20g, bồ công anh 15g, kim ngân hoa 12g, cam thảo đất 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 5-7 ngày.

- Chữa kinh nguyệt không đều: Bông phấn 20g, ích mẫu 30g, ngải cứu 25g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Hoặc: Bông phấn 20g, ích mẫu, rễ củ gai mỗi thứ 16g; ngải cứu, cỏ xước, cam thảo nam, mỗi thứ 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 3 ngày, trước kỳ kinh 5 ngày.

- Chậm kinh: Bông phấn 20g, ích mẫu 16g, ngải cứu 1g, nghệ đen 20g, lá móng tay 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống trước kỳ kinh 10 ngày.

- Viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái rắt): Bông phấn 20g, mã đề 20g, râu ngô 16g, kim ngân hoa 16g, cỏ xước 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 1 tuần.

- Dưỡng da: Lấy những quả chín đen, phơi khô, bóc bỏ vỏ đen bên ngoài và vỏ lụa màu vàng bên trong, chỉ dùng bột phấn. Hàng ngày vào buổi sáng và tối, lấy bột phấn này trộn lẫn với một chút mật ong thoa đều lên mặt, để khoảng 30 phút rồi rửa sạch lại bằng nước ấm. Làm thường xuyên có công dụng dưỡng da, giảm vết nám và tàn nhang.

Lưu ý: Không dùng cho phụ nữ có thai.

Bác sĩ Nguyễn Thị Nga

Hẹ giúp thanh nhiệt, giải độc

Hẹ có tên gọi khác là cửu thái, cửu thái tử, khởi dương thảo và nhiều tên khác. Danh pháp khoa học là Allium ramosum dạng hoang dã) hay Allium tuberosum(dạng gieo trồng), thuộc họ Hành (Alliaceae). Các văn bản gần đây chỉ liệt kê nó dưới tên gọi Allium ramosum. Mùi vị của nó là trung gian giữa tỏi và hành tăm.

Trong 1kg lá hẹ có 5 - 10g đạm, 5 - 30g đường, 20mg vitamin A, 89g vitamin C, 263mg canxi, 212mg phốtpho, nhiều chất xơ. Nếu ăn 86g hẹ sẽ thu được 1,9g protid, 5,1g glucid và 25calo năng lượng. Chất xơ có tác dụng tăng tính nhạy cảm với insulin làm giảm đường huyết, giảm mỡ máu, ngừa xơ mỡ động mạch, bảo vệ tuyến tụy. Chất Odorin là một kháng sinh mạnh chống tụ cầu và các vi khuẩn khác.

Những công dụng

Cây hẹ cho nhiều kháng sinh quý: đặc biệt với các bệnh về hô hấp và đường ruột của trẻ em. Hẹ đã được các nhà khoa học nghiên cứu có các hợp chất: Sunfua, saponin và chất đắng... Đặc biệt, chất Odorin có trong cây hẹ được xem như một kháng sinh đặc trị các loại vi trùng staphyllococcus aureus và Bacillus coli. Ngoài ra, trong hạt hẹ còn có ancaloit và saponin. Trong nước ép tươi của lá hẹ có nhiều kháng sinh đối với nhiều loại vi trùng, như một kháng sinh đa khuẩn cho các loại vi trùng ở đường tiêu hóa nói chung và đặc biệt là đối với bệnh lý đường ruột nói riêng như vi trùng Staphyllococcus aureus, Samonella typhi, Sh Flexneri và Subtilis, colipathogene và Coli bethesda. Tính chất của kháng sinh này khá vững bền.

Hẹ giúp thanh nhiệt, giải độc

Giảm huyết áp và cholesterol: cũng như tỏi, hẹ có chứa allicin. Allicin có tác dụng giảm huyết áp và ngăn quá trình sản sinh cholesterol trong cơ thể. Hơn nữa, chúng cũng có đặc tính chống vi khuẩn và chống nấm, tẩy vi khuẩn và nấm trong đường ruột, đảm bảo cho hệ thống tiêu hóa hoạt động tốt.

Giúp ngăn ngừa ung thư: hẹ là nguồn chứa chất flavonoid và lưu huỳnh tự nhiên có thể ngăn chặn một số loại bệnh ung thư hiệu quả. Những chất này giúp chống lại các gốc tự do và ngăn chặn chúng phát triển. Vì vậy, ăn hẹ có thể phòng ung thư đại tràng, vú, tuyến tiền liệt, phổi và dạ dày.

Các vấn đề về da: vì hẹ có đặc tính chống vi khuẩn và nấm nên rất tốt cho da, đồng thời cải thiện những vấn đề về nhiễm trùng da. Hẹ có thể thay thế cho các loại kem bôi trị vảy và làm lành vết thương hở. Nhờ đặc tính này, hẹ có thể tiêu diệt vi khuẩn, nấm, giúp vết thương mau lành.

Giúp xương chắc khỏe: hẹ chứa nhiều vitamin K - loại vitamin chịu trách nhiệm cho sức khỏe xương của bạn. Sự khử khoáng xương được ngăn chặn đáng kể bằng việc ăn hẹ thường xuyên. Đặc biệt phụ nữ dễ bị loãng xương hơn nam giới nên thường xuyên ăn hẹ sẽ giúp tăng mật độ xương.

Ngăn chặn những vấn đề khó chịu khi mang thai: hẹ tươi chứa rất nhiều folate (axít folic là loại axít amin có vai trò quan trọng trong quá trình phân chia tế bào). Phụ nữ mang thai tiêu thụ một lượng axít folic phù hợp sẽ ngăn chặn được đáng kể dị tật bẩm sinh về ống thần kinh ở trẻ sơ sinh.

Ngăn ngừa đông máu: flavonoid trong hẹ giúp cân bằng huyết áp, đặc biệt giúp giảm huyết áp cao. Hẹ giàu vitamin C có tác dụng tăng cường tính đàn hồi của các mao mạch máu và thúc đầy sự hấp thụ sắt trong cơ thể. Ăn hẹ thường xuyên sẽ ngăn ngừa chứng đông máu.

Giúp ngăn ngừa mụn: sự xuất hiện của beta-carotene trong hẹ có tác dụng làm sáng làn da, ngăn ngừa mụn. Ăn hẹ thường xuyên giúp da sáng rạng rỡ.

Hẹ là thức ăn - vị thuốc có tác dụng tốt nhất vềmùa xuân. Vào thời điểm này, chất lượng làm thuốc của hẹ cao hơn. Sách Nội kinh có viết: “Xuân hạ dưỡng dương”, nghĩa là mùa xuân cần ăn các món ôn bổ dương khí. Hẹ nằm trong nhóm thức ăn đó. Còn Bản thảo thập di viết: “Rau hẹ là ấm nhất, có ích cho người, nên ăn thường xuyên”.

Sách Lễ ký viết củ hẹ trị chứng di mộng tinh, đau lưng rất công hiệu. Lá hẹ có vị cay hơi chua, hăng, tính ấm, có tác dụng trợ thận, bổ dương, ôn trung, hành khí, tán huyết, giải độc, cầm máu, tiêu đờm.

Các bài thuốc chủ yếu từ hẹ

Ho khò khè ở trẻ em: lá hẹ hấp cơm lấy nước cho trẻ uống.

Rôm sẩy: rễ hẹ 60g sắc nước uống.

Cảm mạo, ho do lạnh: hẹ 250g, gừng tươi 25g, cho thêm ít đường hấp chín, ăn cái, uống nước.

Táo bón: hạt hẹ rang vàng, giã nhỏ. Mỗi lần uống 5g. Hòa nước sôi uống ngày 3 lần.

Phòng táo bón, tích trệ: hàng sáng dậy, chưa ăn sáng, uống nước hẹ giã đã lọc bã.

Đái dầm, ỉa chảy lâu ngày ở trẻ em: nấu cháo rễ hẹ. Rễ hẹ tươi 25g, gạo 50g, rễ hẹ vắt lấy nước cho vào cháo đang sôi, thêm ít đường, ăn nóng, dùng liên tục trong 10 ngày.

Nấc do lạnh: uống một bát nước hẹ đã giã nát và lọc bỏ bã.

Thổ tả: cấp cứu bằng một nắm rau hẹ giã lấy nước cốt, chưng cách thủy cho uống.

Đau răng: lấy 1 nắm hẹ (cả rễ) giã nhuyễn, đặt vào chỗ đau, đặt liên tục cho đến khi khỏi.

Đau họng: lá và củ hẹ giã đắp lên cổ, băng lại, nhai củ cải, lá húng chanh và nuốt nước.

Hen suyễn: lá hẹ một nắm giã nát, lấy nước uống hay sắc lên để uống.

Sơn ăn lở loét: lá hẹ giã nát đắp lên chỗ tổn thương.

Ghẻ: lá hẹ 50g, rau cần 30g, giã nát đắp lên chỗ tổn thương. Ngày 2 lần.

Đái tháo đường: củ hẹ 150g, thịt sò 100g. Nấu chín, nêm gia vị. Ăn thường xuyên. Trường hợp ra mồ hôi trộm (âm hư tự hãn) dùng món này cũng tốt.

Gan nhiễm mỡ ở người béo phì: hải đới 100g ngâm nước cho nở, cắt sợi. Lá hẹ 200g cắt đoạn dài, cùng nhúng nước sau 5 phút vớt ra. Cho tỏi giã nhuyễn, dấm, dầu vừng, tương và một ít đường trộn đều. Ăn hàng ngày và kéo dài trong một tháng.

Lưu ý: tác dụng dược lý của hẹ cao nhất là vào mùa xuân, kỵ mật ong và thịt trâu. Những người bị các chứng âm hư hỏa vượng, vị hư có nhiệt không nên dùng hẹ lâu dài.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Bài thuốc Nam dòng họ Đỗ Minh điều trị bệnh xương khớp hiệu quả

Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã xếp nước ta vào nhóm các nước có tỷ lệ dân số mắc bệnh xương khớp cao nhất thế giới. Trong đó, các bệnh thường ...